Sau bế mạc Năm thánh: Thử tìm hiểu quá trình của ĐHY đặc sứ Ivan Dias

Posted: 20/01/2011 in Bình Luận

Sau bế mạc Năm thánh: Thử tìm hiểu quá trình của ĐHY đặc sứ Ivan Dias

VRNs (18.01.2011) – Hà Nội – Năm thánh của Giáo Hội Việt Nam đã khép lại. Mỗi người chúng ta mừng năm thánh với quá trình riêng của mình trong quá trình chung của đất nước và của Giáo Hội. Ðược sống qua năm thánh rồi ta sẽ làm gì, sáng kiến gì, đóng góp gì, một phần cũng từ quá trình ấy. Ðến đại lễ bế mạc năm thánh, Ðức Thánh  Cha Bênêdictô XVI gửi đến ta một vị đặc sứ, để cùng tạ ơn, cầu nguyện, hiệp thông, chia sẻ với ta. Thiết tưởng ta cũng nên tìm hiểu quá trình của vị đặc sứ ấy.

Vài hàng tiểu sử.

Ðức Hồng Y Ivan Dias sinh ngày 14 tháng 4 năm 1936 tại ngoại ô Bombay. Ngài là người Ấn Ðộ gốc Bồ Ðào Nha. Thân phụ ngài là Thứ Trưởng Nội Vụ Tiểu Quốc Maharashtra, thời Ấn Ðộ còn chưa độc lập. Ngài học trung học trong trường của Dòng Tên rồi gia nhập chủng viện Tổng Giáo Phận Bombay.

Ngày 8 tháng 12 năm 1958, ngài thụ phong linh mục do tay Ðức Hồng Y Gracias, Hồng Y tiên khởi của Ấn Ðộ. Nghe nói Ðức Hồng Y Gracias có ấn tượng sâu đậm về trí tuệ của Cha Dias, nên sau vài năm làm phó xứ, Cha Dias được gửi sang Roma học Trường Ngoại Giao của Tòa Thánh.  Ngoài ra ngài học luật tại đại học Laterano, và đã lấy bằng tiến sĩ giáo luật năm 1964.

Sau khi tốt nghiệp, ngài được bố trí vào Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Thời đó Ðức Giáo Hoàng Phaolo VI đi theo con đường Ðức Chân Phước Gioan XXIII đã khai sáng với Công Ðồng Vatican II và bắt đầu thi hành sứ vụ của người kế vị Thánh Phêrô không chỉ ở Rôma mà còn đi đến với toàn thể thế giới. Nhiệm vụ quan trọng đầu tiẽn của Cha Dias là tham gia chuẩn bị chuyến tông du của Ðức Phaolô VI đến Ấn Ðộ. Ðó là lần đầu tiên một vị giáo hoàng đi sâu vào lục địa châu Á.

Sau chuyến tông du rất tốt đẹp đó, Cha Dias làm Bí Thư các Tòa Sứ Thần và Khâm Sứ Tòa Thánh tại nhiều quốc gia từ 1965 – 1973. Ðó là giai đọan Giáo Hội Công Giáo bắt đầu triển khai các đường hướng canh tân của Công Ðồng Vatican II. Các nhiệm sở đầu tiên của cha là ở các nước Bắc Âu: Ðan Mạch, Thụy Ðiển, Na Uy, Iceland, Phần Lan. Nói chung đó là những nước rất văn minh, rất tiến bộ về mặt tổ chức xã hội, nhưng đời sống tôn giáo có nguy cơ trở nên mờ nhạt. Tiếp sau đó, ngài lại phục vụ trong một môi trường khác hẳn, trước là ở Inđônêsia, quốc gia Hồi Giáo đông dân nhất mà lại thuộc về Á Ðông. Sau đó là một loạt các đảo quốc chung quanh lục địa Phi Châu: Madagascar, Reunion, quần đảo Comoro, và Mauritius.

Năm 1973, Cha Dias trở về Vatican. Ở Phủ Quốc Vụ Khanh cha phụ trách nghiên cứu và theo dõi tình hình một loạt các quốc gia cộng sản. Trước tiên là Liên Xô với những nước thành viên Belarus, Ukraine rồi tới Ðông Âu với Ba Lan, Bungari, và sang Á Châu thì có  Trung Hoa, Việt Nam, Lào, Campuchia. Ðây là thời cao điểm của chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và cộng sản. Ðức Thánh Cha Phaolô VI tìm cách phục hoạt đời sống giáo hội hết mức có thể được trong các quốc gia xã hội chủ nghĩa. Chính sách này có ít nhiều thành quả trong các nước Ðông Âu nhưng đối với các nước cộng sản Á Châu thì chưa có tác dụng gì. Tuy nhiên, thời kỳ này, những mâu thuẩn nội tại trong khối xã hội chủ nghĩa châu Âu đang ngấm ngầm tác động sẽ đưa đến cuộc khủng hoảng và thay dổi toàn diện ở Liên Xô và các nước Ðông Âu khoảng 10 năm sau. Bên châu Á, đó là những năm cuối của Cách Mạng Văn Hóa Trung Quốc, trước khi Trung Quốc thay đổi dưới sự chỉ đạo của Ðặng Tiểu Bình, mở đường cho Trung Quốc ngày nay. Tại Việt Nam, Lào và Campuchia, chiến thắng của phe cách mạng chấm dứt cuộc chiến tranh Ðông Dương có thể coi là một thành tựu đỉnh cao của phong trào cộng sản quốc tế. Chính trong thời kỳ này, Cha Dias được quen biết Ðức Hồng Y Karol  Wojtyla, Tổng Giám Mục Krakow, trong tương lai gần sẽ là Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II.

Sau đó Cha Dias lại được trao phó công tác nghiên cứu và theo dõi  tình hình giáo hội tại một loạt các nước châu Phi: Namibia, Lesotho, Swaziland, Zimbabwe, Ethiopia, Rwanda, Burundi, Uganda, Zambia, Kenya, Tanzania. Ðây là những nước nghèo khổ, bi đát và bất ổn, nhưng đồng thời giáo hội trên lục địa đen cũng phát triển với một tốc độ rất nhanh.

Năm 1982, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II chọn Cha Dias làm Tổng Giám Mục hiệu tòa Rusibisir và cử ngài làm quyền Sứ Thần Tòa Thánh tại các nước châu Phi Ghana, Togo, Benin. Ngài thụ phong Giám Mục do tay Ðức Hồng Y Casaroli, vị Quốc Vụ Khanh lão luyện của Tòa Thánh. Ngài chọn khẩu hiệu là Servus (người tôi tớ). Ba nước Phi Châu này là những nước đa tôn giáo. Riêng Benin trải qua những giai đọan lạ thường: Tổng Thống Kerekou muốn thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa rất chính thống. Nhưng đến năm 1980, ông lại tuyên bố theo Hồi Giáo, ít năm sau ông lại cải đạo lần nữa, lần này ông theo Kitô Giáo trong phong trào canh tân đặc sủng, (đến năm 1989 thì ông từ bỏ chủ nghĩa Mác xít, lúc này Ðức Cha Dias không còn làm Sứ Thần ở Benin).

Sau sáu năm ở châu Phi, Tòa Thánh lại cử ngài đến một nhiệm sở mới. Ngài được cử làm Sứ Thần Tòa Thánh tại Hàn Quốc. Ðây là thời kỳ Ðại Hàn bắt đầu ra khỏi các chế độ độc tài trước kia và bắt đầu tái lập các quyền tự do dân chủ. Hàn Quốc bắt đầu nổi lên như một quốc gia hùng mạnh về kinh tế kết hợp tính hiện đại với bản sắc dân tộc và có địa vị đáng nể trên trường quốc tế mà Thế Vận Hội Seoul là một minh họa. Ðồng thời người ta cũng cùng thao thức  tìm cách vượt qua những hận thù Nam Bắc để tìm một tương lai tươi sáng hơn cho Bắc Triều Tiên. Trong quá trình này, Giáo Hội Hàn Quốc, dưới sự lãnh đạo của Ðức Hồng Y Kim rất đuợc mọi người kính nể. Dân số Công Giáo gia tăng nhanh chóng (vì thế gần đây chúng ta thấy có người nêu lên trường hợp Hàn Quốc để cảnh cáo người Công Giáo Việt Nam về những thiếu sót trong công cuộc truyền giáo). Ðức Cha Dias có ấn tượng rất tốt đẹp về đất nước, con người và văn hóa Hàn Quốc. Nên ngài đã học tiếng Hàn khá giỏi (Ðức Cha Dias là người rất có khiếu về ngôn ngữ, ngài  nói thông thạo hơn 10 thứ tiếng châu Âu, ngoài châu Âu thì ngài nói tiếng Hàn, còn nếu  kể cả những ngôn ngữ mà ngài chỉ biết sơ sài thì tổng cộng ngài biết đến 17 thứ tiếng).

Năm 1991 Ðức Cha Dias lại được gửi đến một môi trường mới: Albania. Albania là quốc gia nghèo nàn lạc hậu nhất châu Âu. Dân Albania theo Hồi Giáo và Kitô Giáo. Nhưng từ sau thế chiến thứ II, Albania sống dưới chế độ cộng sản, và là loại cộng sản hà khắc nhất, theo đường lối Stalin. Ngay cả khi các nước cộng sản châu Âu đã từ bỏ đường lối Stalin, thì Albania vẫn một mực trung thành với Stalin, liên minh chặt chẽ với Trung Quốc thời Cách Mạng Văn Hoá để chống  Liên Xô. Với một đường lối như thế thì tình trạng các tôn giáo dĩ nhiên rất thảm thương, phải nói là cấm đạo thật sự. Các giáo sĩ tu sĩ thừa sai nước ngoài đã bị trục xuất hết từ năm 1946. Nhà thờ, tu viện bị phá hủy. Mọi nghi lễ tôn giáo đều không được phép. Tên thánh cũng không được dùng, Kinh Thánh bị cấm. Những tín hữu bất tuân bị đàn áp kịch liệt, tù tội, tra tấn, có người bị giết. Sinh hoạt tôn giáo chỉ tồn tại dưới dạng “chui”.

Năm 1985 nhà độc tài Enver Hoxha qua đời, tang lễ rất trọng thể. Nhưng liền sau đó xã hội bắt đầu thay đổi và cải tổ. Năm 1991, khi Ðức Cha Dias đến Albania cũng là năm đầu tiên ở đất nước này có bầu cử đa đảng. Tuy nhiên sau 50 năm độc tài và hoàn toàn khép kín với bên ngoài, không thể tìm được những nhân sự có kinh nghiệm để điều hành đất nước, tình hình rất hỗn loạn, nạn tham nhũng lan tràn khủng khiếp. Trong lãnh vực tôn giáo của mình Ðức Cha Dias đã mời các thừa sai và các chuyên viên nước ngoài đến giúp đỡ Albania cả về mặt đạo lẫn trong lãnh vực xã hội. Ngài đã phục hoạt nhiều nhà trường và nhà thờ cho Giáo Hội. Ngài được chính  phủ Albania tặng huy chương Kim Khánh Mẹ Têrêsa.

Sau 30 năm hoạt động xuất sắc trong ngành ngoại giao Tòa Thánh, Ðức Gioan Phaolo II muốn trao cho ngài trách nhiệm mục vụ trực tiếp. Ngày 8 tháng 11 năm 1996, ngài được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục thứ chín của Tổng Giáo Phận Mumbai. Mumbai là thành phố đông dân thứ nhì thế giới (14 triệu), cũng là quê hương của Ðức Cha Dias. Dân Mumbai, cũng như dân Ấn Ðộ nói chung, rất sùng đạo. Tôn giáo lớn nhất là Ấn Giáo, rồi đến Hồi Giáo, đến đạo Jain, đạo Zoraoaster, rồi mới đến Kitô Giáo.

Năm 2000 Bộ Giáo Lý Ðức Tin công bố tài liệu Dominus Iesus (Ðức Giêsu Chúa) gây ra nhiều phản ứng, nhất là trong các giới quan tâm đến Ðại Kết và Ðối Thoại Tôn Giáo. Tay thợ cả của Dominus Iesus là Ðức Hồng Y Joseph Ratzinger, ngày nay là Ðức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI. Dominus Iesus sau khi nhắc lại đức tin căn bản vào Chúa Giêsu Kitô, đã khẳng định rằng những người ngoài Công Giáo ở vào một” tình trạng khiếm khuyết trầm trọng so với những người ở trong giáo hội được hưởng đầy đủ mọi phương thế cứu độ”. Nhiều nhà thần học , cách riêng ở Ấn Ðộ, sôi nỗi bày tỏ sự bất mãn, vì cho rằng văn kiện này để lộ một thái độ quá tiêu cực với các tôn giáo khác, là một bước lùi trong sự hiệp thông và đối thoại. Riêng Ðức Hồng Y Dias vẫn một mực bênh vực Dominus Iesus. Ngài nói rằng văn kiện này chỉ “khẳng định một lần nữa rằng Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Thế duy nhất. Chúng ta có quyền nói chúng ta là ai, người khác có quyền tin hay không tin”.

Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II trong dịp này đã minh xác: “ Sự tuyên xưng đức tin (của văn kiện Dominus Iesus ) không phủ nhận ơn cứu độ cho những người ngoài Kitô Giáo, nhưng chỉ rõ nguồn gốc uyên nguyên của ơn cứu độ là Chúa Kitô, ở nơi Ngài con người được kết hợp với Thiên Chúa”. Ðức Gioan Phaolô II cũng giải thích như Ðức Cha Dias: “Tất cả những ai thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, kể cả những người không biết Chúa Kitô và Hội Thánh của Người thì nhờ ảnh hưởng của Ơn Thánh đều góp phần xây dựng Nước Thiên Chúa”.

Ngày 21 tháng 2 năm 2001 Ðức Gioan Phaolo II trao tặng Hồng Y cho Ðức Tổng Giám Mục Dias. Ngày 10 tháng 3, Ðức Hồng Y Dias được bổ nhiệm làm thành viên của Hội Ðồng Hồng Y nghiên cứu các vấn đề về tổ chức và kinh tế của Tóa Thánh. Ngài cũng là một trong ba vị Chủ Tịch của Thượng Hội Ðồng Giám Mục Thế Giới họp tháng 9 và tháng 10 năm 2001.

Cuối năm 2001, tình hình tôn giáo có những mặt căng thẳng. Ỡ Ấn Ðộ, phe Ấn Giáo toàn thống tiếp tục đả kích ác liệt các người theo Kitô Giáo. Trên thế giới nói chung, sau thảm họa khủng bố 11 tháng 9 ở Tòa Tháp Ðôi, New York (Mỹ), người ta lo ngại một cuộc đối đầu võ trang giữa phương Tây và thế giới Hồi Giáo. Ðức Hồng Y Dias đã mời các vị lãnh đạo các tôn giáo hội họp. Cuộc tập họp này theo ý ngài, là “gặp nhau vì hòa bình trong một thế giới tan nát vì chiến tranh và hận thù”. Trong cuộc họp này các vị lãnh đạo cam kết “niềm tin tôn giáo bao giờ cũng tìm kiếm hòa bình và tôn trọng người khác”.

Năm 2003 Ðức Gioan Phaolo II ủy nhiệm Ðức Hồng Y Dias giảng thuyết trong lễ tôn phong Chân Phước cho Mẹ Têrêsa. Ðức Hồng Y Dias đã quen thân với Mẹ khi ngài làm Sứ Thần Tòa Thánh tại Albania, (Mẹ Têrêsa là  người con của dân tộc Albania hầu như suốt đời phải sống xa tổ quốc).  Ðức Hồng Y Dias từng nói rằng: “Tìm đến với anh chị em đồng loại, đón nhận người nghèo như Mẹ Têrêsa đã làm, là một công việc  phục vụ mà mỗi Kitô hữu đều phải coi như bổn phận của mình.”

Ngày 20 tháng 5 năm 2006, Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI bổ nhiệm Ðức Hồng Y Dias làm Bộ Trưởng Bộ Loan Bao Tin Mừng cho các dân tộc. Bộ này hướng dẫn tất cả các hoạt động truyền giáo trên toàn thế giới, nên Hồng Y Bộ Trưởng Bộ này thường được gọi là “ Giáo Hoàng Ðỏ”. Trong cương vị mới này, đường lối của ngài là đến với mọi người. Ngài từng nói các Giám Mục Công Giáo “phải hết sức cố gắng để quan hệ với mọi người mà không chút tự tôn mặc cảm, nhưng với một tinh thần phục vụ chân thành và khiêm tốn”. Với các tôn giáo khác, ngài cho rằng các niềm tin tâm linh và các kiểu hành đạo “là một lời mời gọi đối thoại chân thật, không những chỉ về những vấn đề mà các tôn giáo khác cùng trùng hợp với văn hóa Kitô Giáo, mà cả về những vấn đề dị biệt”.

Ðức Hồng Y Dias là người rất ít nói về bản thân mình. Nhưng qua tiểu sử trên đây, ta thấy ngài  là một người rất giàu kinh nghiệm. Lần này ngài đến Việt Nam, không hiểu sẽ có tác dụng gì. Chắc chắn là cộng đòan Việt Nam đón tiếp ngài rất trọng thể. Có lẽ cũng nên nhắc tới một câu có tí chút hài hước của ngài nhân một hội nghị quốc tế các Giám Mục ở Roma năm 2000: “Giám Mục cũng giống như con lừa, phải để Chúa Giêsu cưỡi trên đôi vai của mình cho cao để dân chúng  được thấy được nghe và được đi theo. Những lời ca tụng Hosannas và Alleluias, những cành thiên tuế và cành ô liu, những xiêm y trải trên mặt đường không phải là để đón lừa, nhưng là để đón Chúa của lừa”.

Hiện nay thì còn quá sớm để có thể nhận ra kết quả cụ thể chuyến đi của vị Ðặc Sứ. Nhưng kết quả gì thì cũng không thể khác là: dân chúng được thấy, được nghe, và được theo Chúa Giêsu.

Xin hiệp thông và cầu nguyện.

Vũ Khởi Phụng

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s