Đức Mẹ và giáo hữu Việt Nam đầu thế kỷ 21

Posted: 30/12/2010 in Báo Mẹ Hằng Cứu Giúp

Đức Mẹ và giáo hữu Việt Nam đầu thế kỷ 21

VRNs – (30.12.2010) – Báo Đức Mẹ HCG – Trên trang bìa số đầu tiên báo Đức Mẹ hằng cứu giúp hồi sinh sau 34 năm vắng bóng (từ năm 1975) người ta được thấy lại  hình một người đang cầm bức ảnh Đức Mẹ hằng cứu giúp  trong chuyến di cư từ Bắc vào Nam Việt Nam năm 1954.

I. MẸ MARIA VẪN ĐƯỢC TÔN SÙNG

Nhìn bức ảnh ấy và nghĩ đến quãng thời gian dài 75 năm (từ khi tờ báo ra đời năm 1935 đến thời điểm hiện nay, năm 2010) người ta có thể ghi nhận sự kiện đáng mừng đầu tiên là tuy biết bao đổi thay, biết bao thăng trầm đã xảy ra, nhưng một sự kiện vẫn còn nguyên và thật rõ ràng, chắc chắn:  đó là lòng sùng kính của giáo hữu Việt Nam đối với Đức Maria. 75 năm, tức là gần một thế kỷ đã trôi qua, với những đổi thay lớn lao về lối sống, về quan niệm của con người, vậy mà tình mến của người giáo hữu Việt Nam vẫn tiếp tục và không lay chuyển. Tình hình ở đầu thế kỷ 21 vẫn giống như thời giữa thế kỷ 20.

Ai cũng biết, sở dĩ người giáo hữu Việt Nam dành cho Đức Mẹ một lòng sùng kính bền bỉ như thế, chính vì một số lý do sau đây: chính Hội thánh, Mẹ chúng ta, luôn đề cao Đức Mẹ – rồi chính Đức Mẹ, trong tư cách một người Mẹ, luôn được mọi kẻ tin cảm nhận là một Đấng gần gũi mình, một Đấng dễ tiếp cận gặp gỡ, một người Mẹ dịu hiền nhẹ nhàng đối với mình hơn Thiên Chúa – đồng thời cách sùng kính Mẹ cũng lại là một việc dễ thực hiện và dễ tuân giữ.

Nếu đi vào chi tiết các lý do vừa nêu trên hơn một chút, ta phải nhận rằng theo một số đoạn trong Kinh thánh Tân Ước, tức là ngay từ lúc tiên khởi của Hội thánh, ngay từ thời các Tông đồ, Đức Mẹ đã có một vị thế đặc biệt trong con mắt của các Tông đồ, trong đời sống Hội thánh và trong con tim của các tín hữu đầu tiên.

Mẹ được gọi là “Bà” theo nghĩa là “Evà mới”, đối lại với Evà đầu tiên. Evà đầu tiên mất tiếng vì phạm tội và gây đại họa cho nhân loại, đến nỗi đáng chê trách thậm tệ bao nhiêu, thì Đức Maria – Evà mới –  thẳm sâu ngoan thảo, tùng phục đối với Thiên Chúa, tích cực góp phần với Thiên Chúa trong chương trình cứu thế, mở ra một trang sử mới cho nhân loại và đáng được ca ngợi chúc tụng bấy nhiêu.

Đức Maria được gọi là “Mẹ Chúa tôi” – do môi miệng bà Isave, người chị họ của Mẹ, cũng là lời vọng lại cách gọi của tất cả Hội thánh thời đầu – bởi vì mọi kẻ tin lúc đó đều nhìn nhận Mẹ là Mẹ Đức Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể, là Đức Kitô, là Chúa vinh hiển nhờ cuộc Khổ nạn Phục sinh của Ngài.

Nghĩ về mối liên hệ giũa Đức Maria và các tín hữu thời đầu, người ta chỉ có thể nói đó thật là một Người Mẹ thân thương, đầy uy tín, được tuyệt đối nể trọng giữa một đoàn con ngày càng đông đúc – là các kẻ tin gốc Do thái và những người thuộc các sắc dân, các địa phương khác ở vùng Tiểu Á. Tất cả, từ các Tông đồ đến các kẻ tin, ai ai cũng nhìn và nhận Đức Maria là một người Mẹ của cả Hội thánh và của cá nhân mình. Tất cả đều dành cho Mẹ một lòng yêu mến sâu sắc, một  sự gắn bó thiết tha. Đối với mọi phần tử của Hội thánh lúc bấy giờ, Mẹ luôn là một người nữ cao trọng, một con người được Thiên Chúa kén chọn đặc biệt và đầy hồng ân của Thiên Chúa. Nơi con tim mọi người, lòng kính yêu  Đức Kitô, vị Chúa của mình, không tách rời và không thua kém lòng yêu mến đối với Đức Maria, người Mẹ chung của mọi kẻ tin.

Những điều chúng ta đang nói về Hội thánh tiên khởi không phải chỉ là chuyện của nguyên thời tiên khởi, mà còn là chuyện kéo dài trong suốt lịch sử của Hội thánh. Thật vậy, Hội thánh chúng ta ở mọi thời đại, từ quá khứ xa xưa cho đến hôm nay, luôn đề cao và kính yêu Đức Mẹ.

Với việc nhìn và nhận Mẹ là một người Mẹ, mọi người trong Hội thánh cũng cảm nhận sự gần gũi lạ lùng của Mẹ. Nếu trong mọi gia đình, người mẹ là người gần gũi con mình hơn người cha, vì là kẻ cưu mang con suốt một thời gian dài, vì là kẻ dưỡng nuôi cho con ngày càng lớn khỏe bằng giòng sữa mình, bằng những quan tâm săn sóc, nâng niu đêm ngày, là kẻ không còn sống cho bản thân mà cho con mình mọi lúc, thì trong đời sống thực tế của Hội thánh thời đầu và trên bình diện siêu nhiên, Đức Mẹ cũng là người Mẹ giống như thế đối với mọi kẻ tin.

Về phía con người, người ta giống như những đứa con thơ nằm trong vòng tay âu yếm của Mẹ, hoặc sát kề bên Mẹ, hoặc vui đùa an tâm chung quanh Mẹ. Người ta thấy lúc nào cũng dễ đến với Mẹ, dễ gặp Mẹ, dễ nhận được sự quan tâm và tình thương của Mẹ. Người ta cảm nhận sự dịu hiền tỏ lộ từ Mẹ, khiến mình không hề phải e dè sợ hãi, dù mình ở trong tình trạng tội lỗi đáng quở trách đến mấy, trong khi nghĩ về Thiên Chúa, thường người ta có một cảm tưởng ngược lại: Thiên Chúa là Đấng quá cao vời, quá xa cách và nghiêm khắc, linh hồn đến với Thiên Chúa trong tâm trạng sợ sệt, khép nép, nếu không nói là ít đến với Người, không dám đến hoặc chỉ đến khi “chẳng đặng đừng” mà thôi. Nơi biết bao người trong chúng ta, những ý nghĩ tốt về Mẹ, những tâm tình mến thương dành cho Mẹ, những phút giây hướng về Mẹ  thường nhiều hơn hẳn so với  những tâm tình kính mến, những thời gian  dành cho Thiên Chúa. Có người muốn kết luận: Đạo công giáo chúng ta là Đạo mến thờ Đức Maria, hơn cả Đạo tin thờ Thiên Chúa.

 

II. CÁC VIỆC KÍNH ĐỨC MẸ VẪN ĐƯỢC DUY TRÌ

Sự kiện thứ 2 đáng ghi nhận đó là: các việc kính Đức Mẹ vẫn tiếp tục được duy trì, dù 75 năm hay đúng hơn mấy thế kỷ đã trôi qua. Về các việc này, ta có thể kể:

–         việc mộ mến các ngày lễ trọng kính Mẹ và các ngày thứ bảy, nhất là thứ bảy đầu tháng. Ở rất nhiều nhà thờ, đây thường là những dịp con số người đến dự lễ tăng nhiều hơn những ngày khác.

–         rồi việc dành hai tháng trong năm, tháng 5 và tháng 10, để tỏ lòng kính mến Đức Mẹ: tháng 5 để tổ chức những buổi dâng hoa, rước kiệu, tháng 10 để lần chuỗi mân côi, thường là vào buổi tối và trong chính buổi chầu Mình Thánh Chúa.

–         kế đến là việc làm các tuần cửu nhật khấn xin các ơn phần hồn phần xác cùng Đức Mẹ. Tại nhiều giáo xứ, thói quen rao các ơn người ta khấn cùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp vẫn được duy trì đều đặn vào các ngày thứ bảy.

–         hoặc việc hành hương đến các trung tâm kính Đức Mẹ, như La Vang, Trà Kiệu,  La Mã Bến Tre, Tà Pao…, việc trưng bày ảnh tượng Đức Mẹ ở các nhà thờ hoặc nhà riêng, đeo ảnh đeo áo Đức Bà, đọc các kinh kính Đức Mẹ, hát các bài thánh ca kính Đức Mẹ…

–         Đặc biệt trong hơn 20 năm trở lại đây, có thêm một sự kiện mới, đó là việc kính Đức Mẹ Mễ Du. Việc đạo đức này phát xuất từ sự kiện Đức Mẹ hiện ra cho 6 thị nhân người Nam Tư ở Mễ Du (Medjugorje) từ ngày 24/6/1981 và cho đến nay vẫn còn các cuộc hiện ra. Nhiều Nhóm tôn sùng Đức Mẹ Mễ Du (Đức Mẹ dưới tước hiệu Nữ Vương Hòa Bình)  đã được thành lập ở nhiều địa phương, sinh hoạt của các Nhóm này có tính cách thuần túy đạo đức và rất chân thành: họ thường đọc cho nhau những lời nhắn nhủ của Đức Mẹ qua một hay 2,3 thị nhân – những người được gặp gỡ, tiếp xúc với Đức Mẹ – họ suy niệm về những lời nhắn nhủ ấy, họ theo dõi tin tức về những sự kiện lớn nhỏ tiếp tục xảy ra không ngừng ở Mễ Du – và thường họ kết hợp với một việc đạo đức khác, đó là kính Lòng Thương xót của Chúa, lần chuỗi Lòng Thương xót, một hình thức lần chuỗi mới, với những câu kinh mới, van nài Chúa Cha thương xót họ và  toàn thế giới, hưởng ứng những tiên báo của Đức Mẹ về việc Mẹ đến lần này tại Mễ Du là lần cuối cùng, chuẩn bị cho Cuộc ngự đến không còn xa của Con của Mẹ là Đức Kitô. Hình thức sùng kính mới và tinh thần cầu nguyện sám hối gắn liền với hình thức mới này đang là luồng gió mát thổi vào nhiều tâm hồn và nhiều đoàn nhóm, khơi lên ngọn lửa yêu mến đối với Đức Mẹ và quyết tâm đổi mới đời sống.

–         Nhưng hơn tất cả, có một việc đạo đức không thể quên nhắc tới, đó chính là việc lần chuỗi mân côi:

+ đây thật là việc đạo đức đã có từ rất lâu, nhưng không hề cũ kỹ lỗi thời, trái lại vẫn còn mới mẻ và hợp thời.

+ chuỗi mân côi đến nay vẫn đang được duy trì, chính vì đây là một việc đạo đức được đich thân Đức Mẹ ưa thích và chuẩn nhận, một việc đạo đức từng mang lại vô vàn lợi ích thiêng liêng cho các linh hồn, kể cả mang lại nhiều phép lạ lẫy lừng (như giúp đạo quân Công giáo đại thắng quân Hồi giáo ở Lépante hồi thế kỷ 16, hoặc giúp nhân loại trong thế kỷ 20 thoát được những cuộc thế chiến thảm khốc và những trào lưu tư tưởng nguy hại). Đồng thời chuỗi mân côi cũng là một việc đạo đức bình dân, dễ thực hiện, thích hợp cho mọi hạng người và cho mọi nơi chốn, mọi hoàn cảnh. Từ trẻ con đến người già, từ người khỏe đến người bệnh, ban ngày cũng như ban đêm lúc ở nhà cũng như lúc đi đường hay lao động, lúc ở trong nhà thờ và ở trước ảnh tượng Đức Mẹ, cũng như khi ở những nơi không  có cơ sở, đền đài, không có ảnh tượng Đức Mẹ… bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu, người ta đếu có thể lần chuỗi hoặc thầm thĩ đọc nhiều kinh Kính Mừng kính Đức Mẹ.

–         Đúng là không có việc đạo đức nào đại chúng, giản dị mà lại hữu ích như chuỗi mân côi.

 

III. TÌNH CON ĐỐI VỚI ĐỨC MẸ

Sự kiện đáng mừng thứ ba, sau 75 năm, đó là tình con của người giáo hữu Việt Nam đối với Đức Mẹ.

–         Về điểm này, dĩ nhiên không thể bịt mắt để không thấy một số tiêu cực, không đáng khen như thái độ hình thức và hời hợt của kẻ chỉ làm các việc đạo đức kính Đức Mẹ một cách chiếu lệ, theo thói quen, không đặt để tâm trí vào các việc đó. Ví dụ lần chuỗi đọc kinh trong sự chia trí lo ra. Tay lần theo hạt chuỗi, miệng đọc đều đặn, nhưng lòng bay bổng tận phương trởi xa tít. Hoặc thái độ không còn trung thành với việc tham dự các ngày lễ kính Đức Mẹ, không thiết tha với các tuần cửu nhật và sự khấn xin các ơn cần với Đức Mẹ, không sốt sắng hưởng ứng các cuộc hành hương do giáo xứ hoặc đoàn thể mình tổ chức.

–         Nhất là thái độ lười biếng – đến mức cả tuần, cả tháng, thậm chí nhiều tháng, không đọc nổi ba kinh Kính mừng, vì sáng tối chẳng hôm nào đọc kinh cầu nguyện, ban ngày lại càng ít khi đọc hơn nữa – cũng như thái độ hờ hững với Đức Mẹ, coi như chẳng có Ngài, không dành cho Ngài một chỗ nào, dẫu là nhỏ, trong tâm tưởng và cuộc sống thường nhật. Nơi những người có các thái độ trên, hình ảnh Đức Mẹ đã ít nhiều lu mờ, nếu không nói là đang sắp bị quên lãng hoặc đẩy lùi hoàn toàn.

–         Thế nhưng bên cạnh những tiêu cực đó, phhải nhận rằng nơi rất đông giáo hữu Việt Nam đầu thế kỷ 21, Đức Mẹ vẫn tiếp tục là Đấng được yêu mến bằng thái độ chân thành, tức là thái độ thực tâm coi Đức Mẹ là Mẹ thân thương của mình, là Đấng rất đáng mến yêu, rất đáng tin cậy. Kẻ có thái độ này giống như đứa con thơ hoàn toàn nương tựa vào Mẹ, gần gũi Mẹ mọi lúc, tâm sự với Mẹ cũng như khẩn cầu cùng Mẹ trong mọi sự thuộc đời sống mình. Họ luôn cảm thấy an vui vì xác tín có Mẹ ở gần bên, vì tin chắc Mẹ hằng quan tâm đến cảnh huống mình và lắng nghe mình.

Như thế, ta có thể nói tuy có một số bóng tối, một số mây đen trong việc tôn sùng Đức Mẹ, nhưng vị thế của Đức Mẹ nơi tâm hồn các giáo hữu Việt Nam vẫn đang còn cao cả và ưu tiên, tâm tình con thảo của họ đối với Đức Mẹ vẫn đang còn nồng nàn sâu đậm, chưa bị thời gian và ảnh hưởng của thời đại thay đổi đến chóng mặt chi phối, lung lạc và triệt hạ, như điều xảy ra cho một số lãnh vực khác trong xã hội. Chắc chắn đó là niềm vui lớn lao cho Đức Mẹ và cho tất cả đoàn con thân yêu của Mẹ trong Giáo hội Việt Nam chúng ta.

 

Lm. Antôn Trần Thế Phiệt, CSsR

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s