“Trí Thức” là gì? Ai là Trí thức? (kỳ 3)

Posted: 17/12/2010 in Buôn Chuyện

“Trí Thức” là gì? Ai là Trí thức? (kỳ 3)

 

 

VRNs (17.12.2010) – Augsburg – Đi tìm một nội dung thích hợp

Sartre vừa đưa ra mẫu Trí thức như thế thì đùng một cái xẩy ra biến cố 68 ở Pháp. Và biến cố này đã làm đảo lộn nhận thức của ông. Ông hiểu ra, loại Trí thức kiểu tổng quát, toàn diện – mà ông gọi là „Trí thức cũ“ – như ông nghĩ khó mà có. Cuộc biến động 68 tại Pháp đã như cơn sóng thần làm thay đổi tận căn xã hội Pháp trên nhiều lãnh vực, nhưng biến động đó lại không do một ông bà được gọi là Trí thức (nhà văn, nhà thơ, triết gia, khoa học gia…) nào tạo ra cả. Sartre hiểu ra, không thể có loại Trí thức „cũ“, nghĩa là không thể có được hạng người thông suốt được mọi mặt của xã hội và cuộc sống, để từ đó phê phán, đưa ra lời giải đúng đắn cho mọi vấn đề. Vì thế, giờ đây ông nói tới một loại Trí thức „mới“. Theo ông, đây là những chuyên viên, những người có thẩm quyền trong những lãnh vực chuyên môn. Xã hội hiện đại và hậu hiện đại ngày nay càng ngày càng chuyên môn hoá rất cao, không thể có được loại người thông biết mọi chuyện được. Mà đã là chuyên viên thì không thể ai ai cũng là Trí thức được. Một thay đổi nữa nơi Sartre do ảnh hưởng biến cố 68 là quan niệm Trí thức phải gần dân, luôn phải trong dân, theo dân. Trí thức „cũ“ có thể gần dân hoặc xa dân, có thể ngồi trong tháp ngà mà lên tiếng. Nhưng Trí thức „mới“ thì phải dứt khoát đội nón xuống đường cùng với dân oan đòi lại đất đai nhà cửa, cùng với sinh viên hô lên Hoàng sa Trường Sa là của Việt Nam!

Hẳn nhiên, cả hai quan niệm Trí thức „cũ“ và „mới“ của Sartre đều bất cập. Không thể có một hạng người có tri thức toàn diện, mà cũng chẳng có hạng Trí thức luôn phải ở trong dân, luôn phải bám sát theo dân thì mới có thể đạt đích được.

Nhưng, dựa trên quan điểm của Sartre và quan điểm chung, có hai yếu tố nổi bật nơi người Trí thức: Tri thức (Connaissance/Wissen) và Đức hạnh (Vertu/Tugend). Ở Á Đông còn gọi là Tài và Đức. Tri thức /Tài trước đây gần như chỉ có được thông qua trường lớp. Nó dính dáng nhiều với tầng lớp xuất thân đại học và khoa bảng, nhưng hẳn nhiên không chỉ hạn chế trong hạng người đó.

Xã hội hậu hiện đại hiện nay với cuộc cách mạng truyền thông và sự phổ cập nền giáo dục đang dần dần lấy đi nền tảng bằng cấp của loại Trí thức cổ điển. Trước đây chỉ có thứ truyền thông chữ viết, nên các cuộc tranh luận chỉ giới hạn trong một thành phần ưu tuyển và có học nào đó, và xem ra chì có giới học cao hiểu rộng mới là tác viên tạo ra những thay đổi xã hội qua việc lên tiếng phản bác thực tại và mở lối tương lai. Nay tác viên tạo chuyển động xã hội có thể là các tổ chức dân sự (Nhân quyền quốc tế, Attack, Tổ chứ Xanh…) hoặc màn ảnh truyền hình, đặc biệt mạng lưới vi tính (Internet). Chữ viết chuyển sang hình ảnh. Độc quyền của một nhóm chuyển sang tập thể mọi giới. Chỉ cần tung lên tấm ảnh linh mục Lý bị bịt miệng cũng đủ làm chùn tay cả một chế độ. Một vài tin tức hay tấm hình về sóng thần hoặc lũ lụt đủ làm thức tỉnh lương tâm nhân loại. Chỉ cần một nhấn nút trên mạng Facebook là hàng ngàn sinh viên học sinh Iran xuống đường chống lại gian lận bầu cử. Sự phổ thông hoá nền giáo dục đại học (ở phương Tây) làm cho yếu tố bằng cấp nơi Trí thức càng thêm mờ nhạt. Kiến thức ngày nay không còn là độc quyền của trường ốc nữa. Internet cũng có thể cung cấp cho một người những kiến thức tổng quát và chuyên môn không thua gì nơi đại học.

 

Vì thế giới hàn lâm hiện nay có khuynh hướng nhấn mạnh tới Đức hạnh (dấn thân), không còn chú í nhiều tới Tri thức. Nhưng dấn thân vì lí do gì và ở lãnh lực nào, thì lại là chuyện không đơn giản. Ở Đức, người ta nói đến hai mẫu Trí thức: Lí thuyết (Theoretiker) và Đức hạnh (Tugend). Người Lí thuyết nhìn thấy sự kiện; người Đức hạnh nhìn thấy con người. Qua vụ Cồn Dầu, Trí thức lí thuyết thấy „một cuộc đấu tranh chống lại cướp đất, chống lại bạo quyền, thấy sự sai trái của luật đất đai“; Trí thức đức hạnh trái lại thấy „nỗi khổ nhục và đau thương của những người dân bị đàn áp, bị cướp mất nhà cửa ruộng vườn“.

Làm sao để nối hai cái nhìn đó lại? Làm sao để có được một lí do và lãnh vực dấn thân phổ quát mà không sợ sai, sợ lầm do ảnh hưởng bởi hoàn cảnh, thời đại hay í thức hệ? Và suy tư đã đưa người ta đến niềm tin vào í niệm Nhân phẩm. Theo đó, người Trí thức, bất luận với tên gọi nào, là kẻ sẵn sàng bất chấp nguy hiểm bản thân dám dấn thân lên tiếng, khi thấy phẩm giá con người – bất luận hạng người nào – bị xúc phạm, chà đạp, khinh rẻ. Bởi vì chung quy lại, mọi chế độ chính trị chân chính, mọi luật pháp chân chính, mọi tôn giáo chân chính, kì cùng ra, đều hướng tới một mục tiêu bản lề: Bảo vệ và phát huy nhân phẩm, thăng hoa con người.

Như vậy, chúng ta có thể kết luận với những vế như sau. Được gọi là Trí thức, khi người đó:

 

1) nhờ sinh hoạt tri thức của mình mà đạt được một nổi tiếng nào đó

2) sẵn sàng chấp nhận nguy hiểm bản thân để lên tiếng phê bình, phản kháng lại thực tại mâu thuẫn xã hội mà mình nhận ra, nhưng

3) tiếng nói của họ phải vượt lên trên ảnh hưởng phe phái chính trị, cũng như

4) vượt lên trên tầm nhìn hạn chế của một chuyên viên, và

5) luôn với một mục tiêu rõ rệt trước mắt: đấu tranh cho phẩm giá con người.

 

Augsburg, ngày 15.11.2010

Phạm Hồng-Lam, CVK

 

Tham khảo:

– Károly Méhes, Die Intellektuellen und Europa – ein intelligentes Europa.

– Dietz Bering, „Intellektueller“: Schimpfwort – Diskursbegriff – Grabmal?

– Barbara Winken, Die Intellektuelle: gestern, heute, morgen.

– Dorothea Wildenburg, Sartres „heilige Monster“.

Tất cả đăng trong Aus Politik und Zeitgeschichte, số 40/2010. Các trích dẫn đều từ các tài liệu thượng dẫn.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s