“Trí Thức” là gì? Ai là Trí thức? (kỳ 1)

Posted: 16/12/2010 in Buôn Chuyện

VRNs (15.12.2010) – AugsburgPhạm Hồng-Lam, cựu chủng sinh Komtun viết bài này để Kính tặng Giám mục Giáo phận Kontum

Có những từ ngữ, những khái niệm nhiều người dùng một cách đương nhiên. Chẳng ai cần quan tâm tới nội dung í nghĩa của chúng, vì xem ra đã quá rõ. Nhưng thực tế thì chẳng rõ gì cả.

Trí thức“ là một trong những từ ngữ hay khái niệm đó.

Gần đây, từ  „Trí thức“ được nói tới nhiều. Mà nội dung í nghĩa của nó thì lại rất tuỳ tiện. Sở dĩ như vậy là vì „Trí thức“ thật ra là một cái bình có hình tượng rất đẹp nhưng gần như rỗng ruột. Và mỗi người cứ tuỳ í đổ vào đó những gì mình thích, mình mong, mình nghĩ hay mình ngộ nhận. Thật ra Trí thức là một mẫu sống khó đạt được, nên hiếm có ai dám tự nhận mình là Trí thức. Trí thức thường chỉ là một sự nhìn nhận, nghĩa là một đặc tính do người khác gán cho.

Cuối tháng 11 năm 1989, tôi tình cờ gặp luật sư Nguyễn Mạnh Tường ở ngoại ô Paris. Hai bác cháu cùng trọ trong một cái nhà để xe (garage) được biến cải thành chỗ nghỉ chân cho khách phương xa. Đó là lần đầu tiên ông được những người bạn cũ ở Pháp can thiệp để trở lại thăm bạn bè ở Paris. Chúng tôi tâm sự tương đắc suốt hai buổi tối. Tôi đã ghi lại cuộc hạnh ngộ hôm đó đăng trên nguyệt san Độc Lập số tháng 12.1989 tại Đức, về sau được trích in lại trong cuốn „Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương“ (Cali, 1990). Ông kể về cuộc đời hơn 40 năm bị bầm dập trong nước và nói nhiều về thái độ và tư cách sống của một người có học trong chế độ cộng sản. Hôm chia tay, ông tặng tôi một cuốn sách với mấy dòng chữ:

À l’ ami … avec mes meilleurs souhaits!

Puisse-t-il conserver toujours son respect de l’ honeur de l’  intellectuel, son amour de la patrie et son goût de recherches!“ (Tạm dịch : „Tặng anh bạn … với những lời chúc tốt đẹp nhất của tôi. Ước gì anh luôn giữ được lòng trọng danh dự của người trí thức, luôn giữ được lòng yêu tổ quốc và sở thích nghiên cứu“.

Luật sư Tường nói tới danh dự của người Trí thức. Theo ông, Trí thức là người có danh dự và biết bảo vệ danh dự của mình (danh dự đó từ đâu mà có, lại là một chuyện khác). Điều ông nói có dây mơ rễ má với mẫu người Quân tử của Nho học: Uy vũ bất năng khuất. Khi thanh bần không vơ vét tham nhũng như đồng chí „Pờ Mu“ Huỳnh Ngọc Sỹ, khi có tiền có quyền không đổ đốn như các bác khả kính Sầm Đức Xương và Nguyễn Trường Tô, trước cường quyền không thèm nghĩ tới chuyện quỳ hay đứng xin như Giám mục Đà Nẵng đề nghị.

Giáo sư Nguyễn Khắc Dương, trong một bài nói chuyện được giáo sư Trần Duy Nhiên ghi lại, nhận xét: Việt Nam, hay rộng ra, Á Đông chỉ có Kẻ sĩ với lí tưởng thành nhân, chứ không có Trí thức quan tâm tới việc tìm kiếm chân lí khoa học như ở Âu châu. Tắt lại, Kẻ sĩ là Hiền nhân (homme de bien), Trí thức là Bác học (homme de science). Luật sư Tường nói tới cái Đức, giáo sư Dương cái Tài của một loại người. Nhưng suy tư của hai người vẫn còn ở trong truyền thống Nho học.

Mới đây, 23 ông cộng sản già (còn gọi là „cán bộ lão thành“) bên Trung Quốc kí tên vào một lá thư yêu cầu Đảng cộng sản Tàu cho tự do báo chí. Cùng lúc, bên Việt Nam 13 vị có bằng cấp cao trên mạng „Bô-xít“ cùng kí vào một lá thư yêu cầu Đảng việt cộng ngừng khai thác Bô-xít. Truyền thông người Việt quốc gia tức tốc ban cho các vị trong hai nhóm đó danh hiệu „Trí thức“. Giám mục Nguyễn Thái Hợp mới đây cũng được gọi là „Trí thức“, nhân việc ông ra văn thư yêu cầu toà án Đà Nẵng hoãn xử vụ Cồn Dầu.

Mấy trường hợp trên đây cho thấy, hễ ai có chút bằng cấp hoặc có một chút chức vị mà nói được một câu hay làm được một việc gì hợp í mình, thì thiên hạ gán ngay cho nhãn Trí thức. Để rồi dựa vào cái nhãn đó mà thần phục, tung hê (Đấy mới là Trí thức!); hoặc ngược lại, để vin vào đó mà thoá mạ, nếu những vị kia nói năng hoặc hành động không đúng như mong chờ của họ (Trí thức con mẹ gì!).

Cũng vì cái quyến rũ và bở ăn của nhãn Trí thức, nên hiện nay các đồng chí có của có quyền ở Việt Nam trâng tráo đua nhau sắm bằng cấp. Khiêm tốn như đồng chí Thủ tướng thì chút cử nhân nội hoá, máu mặt như đồng chí trưởng Sở văn hoá Yên Bái (?) thì phải là tiến sĩ ngoại mới hài lòng! Nhạc sĩ Tô Hải báo động, chưa bao giờ giáo sư, tiến sĩ dẫy đầy trong các tổ chức nhà nước như hiện nay. Xưa ra ngõ gặp anh hùng, nay ra đường dẫm lên tiến sĩ!

Người ta sắm bằng cấp, ngoài việc để được mau mắn và dễ dàng thăng quan tiến chức, quan trọng hơn là để được ngồi vào bàn Trí thức. Là vì họ nghĩ rằng, Trí thức đơn giản là người có bằng cấp. Tiếc rằng, đây cũng là lối nghĩ của hầu hết người Việt hiện nay. Các kiểu nói phổ cập như: Thì cùng một đám Trí thức với nhau cả! Giới Trí thức trong nước…! Ông đó là một Đại Trí thức (vì ông có nhiều bằng cao)! V.v. cho thấy lối nghĩ phổ biến đó. Chỗ này, đúng ra phải dùng chữ „Thì cùng một đám học thức“ hay „Giới học thức trong nước“ hoặc nếu muốn nhấn mạnh đó là những người có bằng cấp cao thì „giới Khoa bảng trong nước“ thì đúng hơn.

Đó là một ngộ nhận hoặc hiểu sai quan trọng về khái niệm „Trí thức“.

Trí thức, như đã nói, là một mẫu sống, chứ không hẳn là người có bằng cấp. Yếu tố quyết định nơi mẫu sống Trí thức là thái độ dấn thân cho một mục tiêu (cao cả), chứ không phải miếng bằng.

Thế thì „Trí thức“ là gì? – Thưa là „Intellectuels“, chứ không là gì khác!

Mà „Intellectuels“ xuất phát từ đâu, với í nghĩa gì ?

 

 

Nguồn gốc và phát triển của Trí thức

 

„Trí thức“ là chữ người Việt dùng để chuyển nghĩa chữ „Intellectuels“ của Pháp. Nó không dùng để dịch từ „Académiques/Akademiker“ (người xuất thân đại học), „Cultivés/Gebildete“ (người có học, học thức), hay „hauts diplômés/hoch Diplomierte“ (người bằng cấp cao, khoa bảng).  „Trí thức“ bước vào Việt Nam trong thời gian giữa hai thế chiến với việc Pháp thay thế nền Nho học bởi Tân học.

Tại Pháp trước năm 1894, là năm xẩy ra vụ án khiên cưỡng đối với đại uý Alfred Dreyfus gốc người Do-thái, từ ngữ Intellectuels cũng đã xuất hiện đây đó, nhưng chẳng mang nghĩa gì đặc biệt. Việc toà án Paris bất chấp luật pháp quy kết Dreyfus vào tội gián điệp đã tạo ra nhiều giao động trong dư luận Pháp. Cái án đó chỉ là giả tạo. Thật ra là vì Dreyfus và đồng bạn quảng bá và kêu gọi Dân chủ. Cũng giống i như bản án „trốn thuế“ của Điếu Cày Nguyễn Văn Hải hôm nay!

Đặc biệt sau khi nhà văn Émile Zola viết lên bản cáo trạng („J´ accuse“, 1898) về vụ xử án kia thì xã hội Pháp phân thành hai chiến tuyến. Phía theo và phía chống Dreyfus kịch liệt tấn công nhau. Những cuộc sát phạt sau đó không còn hạn chế trong vòng Paris nữa mà vượt cả biên giới Pháp ra các nước Âu châu. Phe theo Dreyfus từ đây dùng chữ „Intellectuels“ làm biểu tượng nhận diện phe mình. Họ tự gọi mình là „Intellectuels“. Họ tung lên khẩu hiệu đó trong mọi cuộc tranh luận, kẻ nó lên cờ, viết lên báo. Họ ra „Manifeste des intellectuels“ (Tuyên Ngôn Của Các Trí Thức) để cổ xuý cho các mục tiêu họ theo đuổi: „dân chủ“, nghe theo „lương tâm“, chỉ tuân phục thứ „chân lí“ có nền tảng „khoa học“. Họ còn tự nhận mình là đệ tử trung thành đấu tranh cho các „nhân quyền“ đã được xướng lên từ cuộc cách mạng 1789.

Tắt lại, „Trí thức“, thoạt kì thủy, đồng nghĩa với tiến bộ, biết điều, chân chính, dân chủ, tự do.

Đối lại, phe lề phải theo nhà nước lúc đó ra sức chửi đám „Trí thức“ là bọn „phản quốc“, bọn „do-thái“, vô tài bất tướng“, „đĩ điếm“, „không tim thiếu óc“, „vô bản năng“…

Như đã nói, cuộc tranh luận đã vượt ra ngoài biên giới Pháp. Ở Pháp, dù phe lề phải đa số không ngừng đập Trí thức, nhưng họ cũng không để „mất trí“ trong cuộc tranh luận. Nghĩa là họ vẫn công nhận nét đẹp đâu đó của „intellectuels“, khi họ vẫn tự nhận mình mới là Trí thức thứ thiệt, chứ không phải như kiểu của đám Dreyfus!

Đối lại, ở nước Đức bên cạnh, ít ra cho tới 1945, chữ Intellectuels không bao giờ mang nghĩa tích cực. „Trí thức“ ở đây mang nội dung hoàn toàn tiêu cực. Nó là quan điểm nối dài của cánh lề phải bên Pháp. Năm 1903, trong cuộc đại hội Đảng Xã Hội Đức (SPD), August Babel được cả hội trường hoan hô nhiệt liệt khi ông phát biểu: Phải xét cho kĩ những người xin gia nhập Đảng, „và nếu như đó là một tay có bằng cấp hay một Trí thức thì ta phải xét kĩ gấp đôi hoặc gấp ba”! Và để tránh khái niệm xấu đó, người Đức lúc đó đã tạo ra một từ thay thế: „Geistiger“ (người Trí tuệ, kẻ có đầu óc): Người Trí tuệ là kẻ làm cách mạng thực sự, còn Trí thức chỉ là những tay ba láp!

Những nét xấu đó của Trí thức dù sao dưới thời Cộng hoà Weimar ở Đức (1918-1933) cũng chỉ là những lập luận mang tính tuyên truyền. Sang thời Quốc Xã (1933-1945), ngôn ngữ tuyên truyền kia biến thành chính sách của đảng cầm quyền. Dưới con mắt và trong chủ trương của Quốc xã, Trí thức chỉ là bọn „vô cảm“, „do-thái“, „ảo tưởng“, „bất tài vô trí“, đầu óc bị nhiễm độc vì ăn phải bã dân chủ và chủ hoà của báo chí do-thái. Hitler than khóc: Rất tiếc là chúng ta phải cần Trí thức, chứ nếu không thì nay mai chúng có thể bị người ta diệt hết mất (còn đâu mà dùng)! Tắt lại, theo Quốc xã, Trí thức không phải là thứ người Đức (undeutsch). Quốc xã dùng khái niệm này như một dụng cụ để diệt đối thủ, diệt những ai mà chúng không thích.

Còn sau thế chiến? Các chính thể dân chủ tại Đức sau đó đã cố gắng tìm lại í nghĩa cho các khái niệm đã bị Quốc xã xuyên tạc. Nhưng số phận Intellectuels cũng không sáng hơn. Franz Joseph Strauß, thủ hiến tiểu bang và là con sư tử của Bayern, đã mỉa mai: Trí thức là đám chuột và ruồi nhặng (Ratten und Schmeißfliegen)!

Ngày nay, „Trí thức“ ở Đức tuy không còn tính chất tiêu cực, nhưng người ta cũng ít bàn tới một khái niệm được coi là „ngoại lai“ này.

 

Phạm Hồng-Lam, CVK

(Kỳ 2:Trí thức trong thế giới cộng sản)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s