Giải pháp cho vấn đề Biển Đông (Kỳ 1)

Posted: 03/12/2010 in Buôn Chuyện

Giải pháp cho vấn đề Biển Đông (Kỳ 1)

VRNs (03.12.2010) – Texas, USA – Biển Đông là một đề tài đã được nhiều người bàn đến trong nhiều năm qua, gần đây, vấn đề trở nên căng thẳng hơn bởi những hoạt động uy hiếp ngư dân Việt Nam của Trung Quốc ngay trên vùng biển Hoàng sa và Trường Sa, thuộc Việt Nam. Để góp phần tìm hiến kế cho Biển Đông, chúng tôi xin giới thiệu bài phân tích ba giải pháp cho vấn đề Biển Đông do giáo sư tạ văn tài biên soạn.

———————–

Viết về đề tài trên theo lời yêu cầu, chúng tôi xin trình bày vài bước đi trong lộ trình đi tìm cách giải quyết – tức là các giải pháp trung gian – rồi sau đó tiến đến các giải pháp pháp lý để giải quyết, trong hoà bình, vấn đề cốt lõi sau cùng là tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và các nước khác về các quần đảo, tài nguyên dầu khí, ngư nghiệp, và thềm lục địa tại Biển Đông và về vấn đề tự do lưu thông hàng hải và khai thác tài nguyên ngoài biển.

 

Vấn đề chủ quyền các tài nguyên trên liên quan đến các quyền lợi mà các quốc gia liên hệ tại Á châu, và các dân tộc của họ, không thể từ bỏ dễ dàng – vì chẳng khác gì có kẻ cướp vào nhà đòi lấy tài sản và vợ mình mà mình chịu để yên. Các cường quốc ở xa như Hoa Kỳ (qua lời ngoại trưỏng Clinton) cũng đã phải tuyên bố gần đây là vấn đề Biển Đông (trong đó Mỹ chú trọng đến lưu thông hàng hải và khai thác dầu khí) là nằm trong quyến lợi quốc gia (national interest) của Mỹ, sau khi thấy Trung Quốc tuyên bố và hành động theo kiểu muốn làm bá quyền tại Biển Đông. Ngay cả Việt Nam, sau nhiều năm cố gắng nhẫn nhịn thái độ hung hăng của Trung Quốc vì hy vọng vào 16 chữ vàng (đến chỗ dẹp cả biểu tình của thanh niên yêu nước chống Trung Quôc–Trần Mạnh Hảo, nhà thơ , đã than giùm họ: “Tôi yêu nước mà sao tôi bị bắt!”) thì nay cũng đã tìm lối thoát sự đè nén, bắt nạt của Trung Quốc mà nhiều năm qua họ đã thể hiện qua các hành vi quân sự, như chiếm đảo 1988, hay áp đảo tâm lý, như đe dọa các hãng dầu có khế ước khai thác tại vùng biển Việt Nam, đơn phuơng cấm dân chài Việt Nam đánh cá và bắt giữ họ đòi tiền chuộc, vẽ đường chữ U (Lưỡi Bò) nhận vơ 80% Biển Dông, phản đổi Việt Nam cùng Mã Lai xác định chung trong một hồ sơ tại Liên Hiệp Quốc về thềm lục địa nối dài. Việt Nam tìm lối thoát khi tạo đưọc một “cú” ngọan mục vào lúc làm chủ toạ hội nghị ASEAN tại Hà Nội vào tháng 7/2010 và lôi kéo được 12 nước ASEAN yêu cầu Hoa Kỳ xác định lập trường quyền lợi quốc gia của Mỹ tại Biển Đông, mời tàu chiến Mỹ đi ra đi vô Việt Nam, và đang chuẩn bị xây dựng thể chế hợp tác chặt chẽ hơn với các nước khác, trong đó có Mỹ,trong chính sách ngoại giao đa phương, đưa vào việc nghị trình bản thảo Báo Cáo Chính Trị trong Đại Hội Đảng 2011.

 

Chúng tôi xét theo quan điểm dân tộc Việt Nam để đưa ra mấy đề nghị sau đây – và nếu chúng tôi nói tới quyền lợi của các quốc gia khác ở Á Châu chung quanh Biển Đông (Trung Quốc, Đài Loan, Phi luật Tân, Mã Lai, Brunei, Nam Dương, Singapore) hay các quốc gia dùng đường hàng hải hay có quyền lợi kinh tế hay an ninh ở Biển Đông (Mỹ, Nhật , Đại Hàn, Ấn, Nga) thì cũng là nói tới gián tiếp thôi.

 

Xin đề nghị 3 loại giải pháp: củng cố nội lực, ngoại giao đa phương và vận dụng luật pháp quốc tế.

 

1.  Tuân theo ý nguyện của nhân dân để có nội lực chính trị và quân sự nhằm đối phó với áp lực của Trung Quốc.

 

Chính Trung Quốc, về mặt chính thức qua thông cáo của Bộ Ngoại Giao  thì vẫn nói gịong ôn hòa (thí dụ gần đây chỉ nói về biển đảo mà không nói gì về đường Lưỡi Bò nữa) nhưng về dư luận nội địa thì  lại  thả lỏng cho  dân chúng, qua báo chí, Internet, hay các bài của các học giả giáo sư bàn về Biển Đông, nói và viết với giọng bá quyền và đe dọa chiến tranh với Việt nam, có lẽ với mục đích để cho một số lãnh đạo Việt nam sợ mà không đẩy mạnh củng cố quân lực hay ngoại giao đa phuơng, nhằm phản ứng kịp thời khi Trung Quốc thình lình đánh úp vài hải đảo, theo lối tầm ăn rỗi.

 

Vì lẽ đó, chính Việt Nam cũng phải tìm thế nhân dân để có sức mạnh quân sự và chinh trị. Vì khí thế nhân dân sẽ làm cho Trung Quốc nể sợ mà chùn tay lại và nếu có chiến tranh thực thì đó là một hình thức “Hội Nghị Diên Hồng” trong thời đại mới để tham khảo ý kiến toàn dân chiến đấu. Phải thả lỏng cho báo chí phát biểu và nhân dân biểu tình xác nhận mạnh mẽ chủ quyến về các đảo (Hoàng sa, còn Trương Sa thì có bao nhiêu đảo, chính phủ sẽ nói sau – xin xem lý do nói phía dưới đây) về quyền khai thác tài nguyên trên thềm lục điạ và vùng kinh tế độc quyền, kể cả bênh vực việc đánh cá của dân chài.

 

Trong kiến nghị ngày 22 tháng 4, 2008 của 122 nhân vật  ở trong và ngoài nưóc, dưới hình thức thư ngỏ gửi các nhà cầm quyền Việt Nam, họ trách móc rằng: “Nhà nước Việt Nam đã tỏ ra không nghiêm túc xét định những kiến nghị quan trọng đã nêu và tỏ ra bất lực trước nghĩa vụ bảo toàn lảnh thổ quốc gia trước quyết định của Trung Quốc thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa, trong đó lại bao gồm cả hai quần đảo máu thịt của Tổ Quốc Việt Nam chúng ta là Hoàng Sa và Trường Sa. Hành động ngang ngược này của Trung Quốc rõ ràng đã coi khinh tình hữu nghị mà Việt Nam chúng ta đã nỗ lực khôi phục và vun đắp trở lại trong suốt hơn một thập kỷ qua. Sự kiện này đã làm cho nhiều người Việt Nam chúng ta khi biết tin hết sức bức xúc, phẫn nộ và đau xót. Không kể gái trai, già trẻ, địa vị, chính kiến đã có nhiều tiếng nói cá nhân, nhiều cuộc biểu tỏ tập thể công khai đã vang lên từ khắp nơi, trên mạng Internet, báo chí, trên đường phố, trong và ngoài nước. Rất khó hiểu, cho đến nay tất cả các vị lãnh đạo cao cấp và các cơ quan cao cấp nhất trong hệ thống lãnh đạo, quản lý đất nước từ Quốc hội, Chính phủ… đều chưa bày tỏ thái độ một cách chính thức và rõ ràng đối với vấn đề Tổ Quốc đã bị Trung Quốc xâm lấn và tuyên bố thôn tính.” Họ viết tiếp là các câu phản đối  của Chính phủ Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa “hoàn tòan không đủ và đã xúc phạm lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam khi gọi những cuộc biểu tình trong trật tự để phản đối Trung Quốc là ‘những cuộc tụ tập không được phép.’ Đặc biệt cần nhấn mạnh những nhân viên an ninh Bộ Công An đã có những hành xử thô bạo, sách nhiễu cuộc sống của những người biểu tình ôn hòa xiển dương lòng yêu Tổ Quốc Việt nam là những hành vi trái pháp luật, làm tổn thương truyền thống đoàn kết quật cường chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Những hành động ngày càng ngạo mạn của chính quyền Trung Quốc gần đây đối với Việt Nam liệu có phải là hậu quả từ sự phản ứng quá nhún nhường của phía Việt Nam chúng ta? Việc ngăn cản nhân dân phản đối kẻ xâm lược lại càng làm cho dã tâm thôn tính của chính quyền bành trướng ngoại bang thêm táo tợn? Bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào cũng đều đang đau đớn với những câu hỏi này! Trong khi đó chỉ bằng hai cuộc biểu tình của giới trẻ Việt nam trước đại sứ quán và lãnh sự quán Trung Quốc vào ngày 09 và 16 tháng 12 năm 2007 đã làm cho giới lãnh đạo Trung Quốc phải xuống thang bằng việc tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) ngày 19 tháng 12, 2007 phải đưa ra việc phủ nhận về ý định thành lập thành phố Tam Sa.”

 

Giải pháp chúng tôi đề nghị để lòng yêu nước của toàn thể dân tộc có thể hỗ trợ chính quyền trong việc bảo vệ đúng mức và sáng suốt quyền lợi quốc gia ngoải Biển Đông (kiên định bảo vệ quyền lợi cốt lõi của dân tộc nhưng cũng mềm dẻo, hòa bình và  khéo léo về ngoại giao — theo câu của ngoại trưởng Talleyrand của Napoléon: “dans la diplomatie, jamais trop de zèle”[trong ngoại giao, không bao giờ nên quá khích]) thì phải làm  thế nào để toàn dân tin tưởng vào lương tâm ái quốc thực sự của giới chức cầm quyền, không có sự dè dặt hay nao núng nào. Và muốn thế, thì trong giới các nhà cầm quyền, nên áp dụng thủ tục bỏ phiếu kín trong các quyết định trong Đảng và Quốc Hội về các vấn đề gay go đối với Trung Quốc để không ai sợ bị lộ diện chống Trung Quốc rồi bị tình báo Trung Quốc ám hại, hoặc Trung Quốc cũng không có thể rải qúa nhiều tiền mua chuộc lương tâm của đa số người trong Đảng hay Quốc hội mà không lộ liễu ra công luận và làm sự mua chuộc hết hiệu lực, vì phải đối đầu với trào lưu ái quốc rất mạnh trong dân tộc. Một thí dụ về bỏ phiếu kín khiến các đại biểu quốc hội có thể mạnh dạn bỏ phiếu theo sự hiểu biết và lương tâm, là việc quốc hội bác bỏ dự án đường xe lửa cao tốc khi chưa hoàn chỉnh. Trong hàng ngũ một số lãnh đạo đã có một sự e sợ Trung Quốc — như thư ngỏ của 122 nhân vật trong nước đã nói tới — vì lãnh đạo muốn chống Trung Quốc còn ngại là sẽ bị lãnh đạo khác dựa vào Trung Quốc tìm cách lật đổ địa vị–bằng biểu quyết– trong Đảng và trong chính phủ. Sự dựa vào Trung Quốc này của một phần lãnh đạo hiện nay, khác hẳn sự nhất trí trong Đảng chống Trung Quốc sau chiến tranh Trung -Việt  nó khiến Đảng và Quốc Hội đồng tâm ghi thêm vào Hiến Pháp 1980 điều khoản coi “bá quyền Trung Quốc” là kẻ thù “xâm lược.” (Trái lại, người dân thường không sợ mất vị trí công việc của mình mà trở thành thất nghiệp, khi tỏ thái độ chống bá quyền Trung Quốc). Khi các đại biểu trong Quốc Hội, hay trong Đảng, biết là vùng Biển Đông — theo một ước tính, tuy chưa chắc chắn — vào năm 2020 có thể đóng góp vào 55% tổng sản lượng quốc gia và 55-60% hàng hoá xuất cảng thì họ sẽ càng quyết tâm bảo vệ tài nguyên của tổ quốc hơn, khi sự biểu quyết của họ được thi hành bằng bỏ phiếu kín. Dĩ nhiên về các vấn đề mà người dân cần biết lập trường khi bỏ phiếu của các đại biểu quốc hội về các vấn đề không có đe dọa đến tính mạng của họ, thì vẫn dùng thủ tục bỏ phiếu công khai (giống như roll call ở quốc hội các nước dân chủ, và cũng đúng tôn chỉ “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”).

GS. Tạ Văn Tài

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s